Bạn hỏi Phúc Tiến trả lời

2. Cọc bê tông ly tâm dự ứng lực là gì?

 Cọc bê tông ly tâm là loại cọc được sản xuất trên dây chuyền hiện đại với bê tông được ứng suất trước kết hợp với quay ly tâm làm cho bê tông đặc, chắc, chịu được tải trọng cao, không nứt, tăng khả năng chống thấm, chống ăn mòn.

CÁC LOẠI CỌC BÊ TÔNG LY TÂM

-Cọc bê tông ly tâm ứng lực trước thường (PC) là cọc bê tông ly tâm ứng lực trước được sản xuất bằng phương pháp quay ly tâm, có cấp độ bền chịu nén của bê tông không nhỏ hơn B40.

-Cọc bê tông ly tâm ứng lực trước cường độ cao (PHC) là cọc bê tông ly tâm ứng lực trước được sản bằng phương pháp quay ly tâm, có cấp độ bền chịu nén không nhỏ hơn B60.

-Cọc PC được chia thành 3 cấp A, B và C theo giá trị momen uốn nứt.

-Cọc PHC được chia thành 3 cấp A, B và C theo ứng suất hữu hiệu tính toán

HÌNH DÁNG CỌC BÊ TÔNG LY TÂM

Cọc bê tông ly tâm PC, PHC có hình trụ rỗng, có đầu cọc, đầu mối nối hoặc mũi cọc phù hợp.Đường kính ngoài và chiều dài cọc không đổi tại mọi tiết diện của thân cọc

Cọc bê tông ly tâm Cọc bê tông ly tâm
 Đường kính cọc   Chiều dài cọc bê tông ly tâm

TẠI SAO LẠI SỬ DỤNG CỌC BÊ TÔNG LY TÂM?

-  Với xu thế ngày càng phát triển như hiện nay thì các công trình lớn, nhà cao tầng ngày càng nhiều nên đòi hỏi cọc phải có những công nghệ mới để áp dụng vào những công trình đó.Đặc biệt là phần ngầm phải thiết kế sao cho phù hợp với sức chịu tải lớn, trên thị trường hiện nay thì có rất nhiều loại cọc như: cọc bê tông cốt thép đúc sẳn, cọc khoan nhồi, cọc bê tông li tâm ứng lực trước,…Trong đó cọc bê tông li tâm ứng lực trước có nhiều ưu điểm nổi trội hơn nhiều loại cọc khác về nhiều mặt như khả năng chịu tải trọng tốt, ít nức, khả năng chống thấm và chống ăn mòn cốt thép tốt, dể thi công, đáp ứng được các yêu cầu của các công trình lớn, nhà cao tầng . Vì vậy hiện nay cọc bê tông ly tâm ứng lực trước ngày càng được sử dụng rộng rãi.

2. Bê tông là gi?


 Bê tông là loại đá nhân tạo được tạo ra bởi hỗn hợp Cốt liệu ( cát, đá, sỏi), Chất kết dính vô cơ ( Xi măng, vôi, silic,thạch cao… ), nước và phụ gia nhào trộn theo 1 tỷ lệ thích hợp khi đông cứng tạo thành hỗn hợp rắn chắc . Cũng có thể dùng chất kết dính hữu cơ như bitum chế tạo nên bê tông asphalt hoặc chất dẻo (polime) chế tạo bê tông polime.


. Lịch sử thành phần bê tông: 


  2000 năm trước những người La Mã đã có phương pháp ít nhiều khoa học để cấu tạo bê tông. Người ta sử dụng vật liệu cơ bản là tro núi lửa, nay được gọi với tên khoa học là puzolan, được trộn với vôi. Nghệ thuật sản xuất bê tông hầu như đã biến mất với đế chế La Mã và chỉ được bắt đầu lại vào giữa thế kỷ thứ 18, khi phát minh ra xi măng tự nhiên đạt được bằng cách nung một vài hạt đá vôi với đất sét.

 

  Ít thời gian sau đó, một chất kết dính thủy lực tốt hơn một chút là vôi thủy lực đã được sử dụng. Thế kỷ thứ 19 người ta bắt đầu sử dụng xi măng, chất kết dính thủy lực chính. Trong nửa sau thế kỷ 19 dùng xi măng pooclang, Đầu thế kỷ thứ 20 đánh dấu sự lên ngôi của xi măng pooclang và bắt đầu từ lúc này danh từ bê tông đã được sử dụng và được hiểu theo nghĩa bê tông bằng xi măng pooclang.


  Đầu thế kỷ 20, với sự ra đời của xi măng cốt thép, việc sử dụng các hỗn hợp không dẻo đã dần bị bỏ qua. Khi đó bắt đầu bê tông dẻo và đến những năm cuối thế kỷ là bê tông có độ siêu dẻo. Hiện nay bê tông có cường độ cao chất lượng cao đang phát triển mạnh. Các phương pháp thiết kế thường được kết hợp giữa lý thuyết và thực tế


Bê tông thương phẩm(bê tông tươi) là gì ?


 Là loại vật liệu bê tông được trộn sẵn. Được tạo thành bởi hỗn hợp cốt liệu : cát, đá; chất kết dính : xi măng cùng với nước và phụ gia theo những cấp phối tiêu chuẩn tạo ra sản phẩm bê tông với từng đặc điểm cường độ khác nhau.


 Lịch sử phát triển phụ gia :


  Việc đưa vào bê tông các sản phẩm các sản phẩm khác nhau ( phụ gia ) nhằm cải thiện một vài tính chất của chúng, bắt nguồn thời kỳ đầu của việc sản xuất bê tông bằng xi măng pooclang. Các sản phẩm đầu tiên chắc chắn là Thạch Cao, Canxiclorua và các loại bột mịn.Trước hết người ta tìm cách tác động lên thời gian ninh kết, cường độ cơ học, tính chống thấm nước.


  Cnadlt đã nghiên cứu từ năm 1891 tác dụng của các chất làm đông kết nhanh và làm chậm sự đông kết. Việc sử dụng chất đường làm một chất làm chậm đông kết đã được biết tới từ năm 1909. Những nhà sản xuất đầu tiên bán các sản phẩm thích hợp đối với bê tông để cải thiện một số tính chất của chúng xuất hiện vào những năm 1910.


  Các sản phẩm đề xuất những năm 1920-1930 là các chất kỵ nước có gốc là các sản phẩm mịn, là các muối stearat, keo xương, san hô biển, các chất làm cứng nhanh có gốc là clorua canxi, các chất kỵ nước cứng nhanh. Các chất làm dẻo được bán vào năm 1935. Các chất cuốn khí chỉ được thực tế sử dụng thực tế vào năm 1948.

 

  Các phụ gia này bao gồm những sản phẩm mà tác dụng của nó đã được biết rõ, Xuất hiện trên thị trường đã 25 năm nay như: Các chất làm chậm đông kết, chống băng giá, sản phẩm bảo dưỡng. Gần đây hơn, các chất polime đã được đưa vào bê tông. Hiện nay ở Pháp tồn tại khoảng 300 loại phụ gia, Ở Việt Nam có khoảng hơn 100 loại phụ gia.


 Mác bê tông là gi? 


  Là khả năng chịu nén của mẫu bê tông


  Theo tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam (TCVN 3105:1993, TCVN 4453:1995), mẫu dùng để đo cường độ là một mẫu bê tông hình lập phương có kích thước 150 mm × 150 mm × 150 mm, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn quy định trong TCVN 3105:1993, trong thời gian 28 ngày sau khi bê tông ninh kết. Sau đó được đưa vào máy nén để đo ứng suất nén phá hủy mẫu (qua đó xác định được cường độ chịu nén của bê tông), đơn vị tính bằng MPa (N/mm²) hoặc daN/cm² (kG/cm²).


  Trong kết cấu xây dựng, bê tông chịu nhiều tác động khác nhau: chịu nén, uốn, kéo, trượt, trong đó chịu nén là ưu thế lớn nhất của bê tông. Do đó, người ta thường lấy cường độ chịu nén là chỉ tiêu đặc trưng để đánh giá chất lượng bê tông, gọi là mác bê tông.


  Mác bê tông được phân loại từ 100, 150, 200, 250, 300, 400, 500 và 600. Khi nói rằng mác bê tông 200 chính là nói tới ứng suất nén phá hủy của mẫu bê tông kích thước tiêu chuẩn, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn, được nén ở tuổi 28 ngày, đạt 200 kG/cm². Còn cường độ chịu nén tính toán của bê tông mác 200 chỉ là 90 kG/cm² (được lấy để tính toán thiết kế kết cấu bê tông theo trạng thái giới hạn thứ nhất).


  Ngày nay người ta có thể chế tạo bê tông có cường độ rất cao từ 1000–2000 kg/cm². Ở các quốc gia khác nhau quy định kích thước mẫu có thể khác nhau. Theo tiêu chuẩn Mỹ, mẫu bê tông hình trụ tròn đường kính 150 mm, chiều cao 300 mm (thí nghiệm nén dọc trục). Để các tiêu chuẩn được tương đương cần có hệ số quy đổi.


 Các cách dưỡng hộ bê tông:


  Theo TCVN 8821 – 2011  
 Quá trình bảo dưỡng ẩm tự nhiên được phân thành 2 giai đoạn: bảo dưỡng ban đầu và bảo dưỡng tiếp theo. Hai giai đoạn này liên tục kế tiếp nhau không có bước gián đoạn, kể từ khi hoàn thiện xong bề mặt bê tông cho tới khi bê tông đạt được cường độ bảo dưỡng tới hạn.


Giai đoan bảo dưỡng ban đầu


Giai đoạn này cần có biện pháp đảm bảo bê tông không bị bốc hơi nước dưới tác động của các yếu tố khí hậu địa phương (như nắng, gió, nhiệt độ và độ ẩm không khí). Đồng thời không để lực cơ học tác động lên bề mặt bê tông.

 

Vùng khí hậu Vị trí địa lý Tên Mùa

Thời gian trong năm

tính theo tháng

Vùng A Từ huyện Diễn Châu (Nghệ An) trở ra.

Mùa mưa ẩm

Mùa hanh khô    

4 - 9

10 - 3

Vùng B Phía Đông Trường Sơn từ Diễn Châu đến Ninh Thuận

Mùa khô 

Mùa mưa

2 - 7
8 - 11
Vùng C Phần còn lại, bao gồm Tây nguyên và đồng bằng Nam bộ.

Mùa khô 

Mùa mưa

12 - 4

5 -11

Bảng 1 - Phân vùng khí hậu theo yêu cầu bảo dưỡng tự nhiên

 

Tiến hành bảo dưỡng ban đầu như sau:


Bê tông sau khi tạo hình xong cần phủ ngay bề mặt hở bằng các vật liệu đã được làm ẩm (bằng các vật hoặc vật liệu thích hợp sẵn có). Lúc này không tác động lực cơ học và không tưới nước trực tiếp lên bề mặt bê tông để tránh bi hư hại bề mặt bê tông. Khi cần có thể tưới nhẹ nước lên mặt vật liệu phủ ẩm. Cũng có thể phủ mặt bê tông bằng các vật liệu cách nước như nilon, vải bạt, hoặc phun chất tạo màng ngăn nước bốc hơi. Khi dùng chất tạo màng trên bề mặt bê tông thì việc tiến hành phun được thực hiện theo chỉ dẫn của nhà sản xuất chất tạo màng. Cũng có thể dùng thiết bị phun sương để phun nước thành sương trực tiếp lên mặt bê tông mà không cần phủ mặt bê tông.


Việc phủ ẩm bề mặt bê tông trong giai đoạn bảo dưỡng ban đầu là nhất thiết phải có khi thi công trong điều kiện bị mất nước nhanh (như gặp trời nắng gắt, khí hậu nóng khô, khí hậu có gió Lào). Các trường hợp khác có thể không phủ mặt bê tông, nhưng phải theo dõi để đảm bảo hạn chế bê tông bị mất nước, tránh nứt mặt bê tông.


Việc giữ ẩm bê tông trong giai đoạn bảo dưỡng ban đầu kéo dài tới khi bê tông đạt được một giá trị cường độ nén nhất định, đảm bảo có thể tưới nước trực tiếp lên mặt bê tông mà không gây hư hại. Thời gian để đạt cường độ này vào mùa mưa ẩm ở Vùng A và các mùa ở Vùng B và C là khoảng (2,5  5) h; vào mùa hanh khô ở Vùng A là khoảng (5  8) h đóng rắn của bê tông tùy theo tính chất của bê tông và đặc điểm của thời tiết. Tại hiện trường có thể xác định thời điểm này bằng cách tưới thử nước lên mặt bê tông, nếu thấy bề mặt bê tông không bị hư hại là được, khi đó bắt đầu giai đoạn bảo dưỡng tiếp theo.


Giai đoạn bảo dưỡng tiếp theo


 Tiến hành kế tiếp ngay sau giai đoạn bảo dưỡng ban đầu. Đây là giai đoạn cần tưới nước giữ ẩm liên tục mọi bề mặt hở của bê tông cho tới khi ngừng quá trình bảo dưỡng.


 Đối với bê tông dùng xi măng poóc lăng và xi măng poóc lăng hỗn hợp: cần thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho mọi bề mặt hở của kết cấu bê tông cho tới khi bê tông đạt giá trị cường độ bảo dưỡng tới hạn   và thời gian bảo dưỡng cần thiết như sau:


a) Đối với bê tông nặng thông thường, bê tông mác cao, bê tông chống thấm, bê tông tự lèn: Không dưới mức quy định ở Bảng 2, tùy theo vùng và mùa khí hậu.


b) Đối với bê tông cốt liệu nhẹ, bê tông cốt sợi phân tán: Thời gian bảo dưỡng cần thiết giảm 1 ngày đêm so với giá trị ở Bảng 2. Riêng mùa mưa ở vùng B và C không dưới số ngày đêm ở Bảng 2.


c) Đối với bê tông bọt và bê tông khí: Thời gian bảo dưỡng cần thiết tăng thêm 1 ngày đêm so với mức quy định ở Bảng 2.

 

d) Đối với bê tông của kết cấu sẽ chịu tác động thường xuyên của hóa chất, bê tông của kết cấu xây dựng ở vùng ven biển trong phạm vi 1 km tính từ mép nước và bê tông ở hải đảo. Nếu không có quy định riêng của thiết kế thì thời gian bảo dưỡng cần thiết lấy tăng thêm 1 ngày đêm so với mức quy định ở Bảng 2.


e) Đối với bê tông khối lớn:
Bê tông kết cấu khối lớn của các công trình công nghiệp và dân dụng (như móng silô, móng ống khói, móng máy, tường và vòm hầm, tường chắn đất v.v...): Ngoài các yêu cầu của thiết kế, thời gian bảo dưỡng cần thiết không dưới 7 ngày đêm, không phân biệt vùng và mùa khí hậu. Biện pháp tưới nước và biện pháp thoát nhiệt cho bê tông khối lớn trong giai đoạn bảo dưỡng tiếp theo cần thực hiện theo hướng dẫn của TCXDVN 305:2004.
Bê tông các đập lớn: Thực hiện theo yêu cầu của thiết kế hoặc theo biện pháp thi công đã được phê duyệt.


f) Đối với bê tông đầm lăn:
Bê tông đầm lăn dùng cho mặt đường hoặc sân bãi: thời gian bảo dưỡng cần thiết không dưới mức quy định ở Bảng 2.
Bê tông đầm lăn cho đập lớn: Thực hiện theo yêu cầu của thiết kế hoặc theo biện pháp thi công đã được phê duyệt. Có thể dùng thiết bị phun nước thành sương lên mặt bê tông ngay sau khi đầm lèn mỗi lớp. Việc phun sương được tiến hành cuốn chiếu lên theo các lớp đổ. Khi ngừng thi công, lớp đổ cuối cùng được tưới nước bảo dưỡng không ít hơn 7 ngày đêm.


Đối với bê tông dùng xi măng poóc lăng xỉ và poóc lăng puzolan: Thời gian bảo dưỡng ẩm tăng thêm 1 ngày đêm so với quy định ở Bảng 2.
Đối với bê tông dùng xi măng đóng rắn chậm, hoặc dùng phụ gia chậm đông kết: Thời gian bảo dưỡng cần thiết tăng thêm 1 ngày đêm so với quy định trong Bảng 2.

 

bang thong so

Bảng 2 - Mức giá trị cường độ bảo dưỡng tới hạn RthBD  và  thời gian bảo dưỡng cần thiết TctBD  cho bê tông nặng thông thường

Đối với bê tông dùng xi măng đóng rắn nhanh, hoặc dùng phụ gia tăng nhanh đóng rắn: Thực hiện theo điểm b trong 6.3.1.


Trong giai đoạn bảo dưỡng tiếp theo có thể phủ ẩm hoặc không phủ ẩm bề mặt bê tông. Đối với vùng có khí hậu nóng khô hoặc có gió Lào thì việc phủ ẩm sẽ có tác dụng để giảm số lần tưới nước trong ngày và hạn chế nứt mặt bê tông.


Số lần tưới nước trong một ngày tùy thuộc vào môi trường khí hậu địa phương, sao cho bề mặt bê tông luôn được ẩm ướt. Việc tưới nước giữ ẩm cần được duy trì cả ban ngày lẫn ban đêm để đảm bảo cho bề mặt bê tông luôn được giữ ẩm, tránh bị để khô trong đêm.


Trong giai đoạn bảo dưỡng tiếp theo có thể thực hiện ngâm nước trên mặt bê tông thay cho tưới nước giữ ẩm.


 Nước dùng để tưới giữ ẩm bề mặt bê tông cần thỏa mãn yêu cầu của TCVN 4506:1987. Cũng có thể dùng nước sông, nước hồ ao không có tạp chất gây hại cho bê tông để bảo dưỡng ẩm bê tông.


 Khi sản xuất các sản phẩm bê tông hoặc thi công công trình bê tông có sử dụng các giải pháp kỹ thuật để tăng nhanh đóng rắn bê tông nhằm sớm tháo cốp pha (như hấp hơi nước, hấp bằng năng lượng mặt trời, hấp bằng điện v.v...) thì quá trình bảo dưỡng tiếp theo cần được thực hiện cho tới khi bê tông đạt cường độ bảo dưỡng tới hạn theo . Khi tháo cốp pha mà bê tông chưa đạt cường độ bảo dưỡng tới hạn thì phải tiếp tục tưới nước bảo dưỡng ẩm cho tới khi bê tông đạt được cường độ bảo dưỡng tới hạn theo quy định.


  Đối với cấu kiện bê tông đúc sẵn yêu cầu đặc biệt có thể sử dụng phương pháp dưỡng hộ bằng lò cao áp (autoclav) để giúp cấu kiện đạt cường độ thiết kế trong thời gian sớm nhất! 


- Các tải trọng nặng như máy móc thi công không được đặt lên bê tông trong thời gian bảo dưỡng, cần có rào cản hoặc biển báo để ngăn cản các tải trọng chất lên phần bê tông mới đổ.


- Các khối bê tông lớn (có trong những công trình quy mô lớn) có biện pháp tản nhiệt trong khối bê tông trong quá trình ninh kết sinh ra như dùng ống thông hơi...


7. Cách đổ và đầm bê tông


  Cần có kế hoạch trước để hạn chế việc kéo dài thời gian đổ và đầm bê tông tại hiện trường. Tránh tình trạng đổ bê tông quá nhanh nên phải bố trí đủ công nhân san gạt và hoàn thiện bề mặt trong điều kiện thời tiết nắng nóng.Đổ và đầm bê tông được thực hiên theo TCVN 4453- 1995.


 Vào lúc nóng và khô hanh cần đổ bê tông theo từng lớp đủ mỏng để có thể quay vòng nhanh, đảm bảo bê tông lớp dưới chưa kết thúc ninh kết để đầm liên tục vào lớp trên. Tốt nhất không có điểm dừng thi công.


  Khi cần có điểm dừng thi công thì điểm dừng cần được xử lý như sau để đảm bảo liên kết tốt giữa 2 đợt đổ bê tông, tránh bị nứt bóc tách sau này:
  - Bề mặt điểm dừng bê tông phải được vỗ phẳng cho nổi màu xi măng lên trên. Không để tình trạng đá sỏi thiếu vữa sẽ là chỗ rỗ sau này
  - Tưới hồ xi măng (hoặc vữa xi măng cát có tỷ lệ thành phần như vữa của hỗn hợp bê tông) lên bề mặt bê tông tại điểm dừng trước khi đổ lớp bê tông sau.
  - Đầm nhẹ nhàng chỗ điểm dừng để tránh rung động quá mạnh vào lớp bê tông đã đổ trước.


 Khi nào tháo được phép tháo dỡ cốp pha


- Chỉ được tháo cốp pha khi cấu kiện bê tông đã đạt được sức bền vật liệu để ổn định kết cấu. Thông thường người ta thường coi thời điểm từ 3 đến 4 tuần sau khi đổ trong điều kiện bình thường ( 200C – 300C ) là đủ để dỡ cốp pha nhưng nếu có điều kiện thì để càng lâu càng tốt.


- Có nhiều trường hợp do tháo dỡ cốp pha trước thời hạn quy định đã làm sụp đổ cấu kiện, gây tai nạn nghiêm trọng. Sau khi tháo dỡ cốp pha, cần chú ý rằng bê tông mới chỉ đạt đến cường độ chịu tĩnh tải ( tức là tải trọng bản thân nó ) mà còn phải lâu sau đó mới chịu được hoạt tải ( tải trọng của đồ đạc thiết bị ). Trường hợp bắt buộc phải dỡ cốp pha sớm, nên tiếp tục chống đỡ các cấu kiện như sàn,dầm bằng chống gỗ hoặc kim loại.


 Xi măng PC là gi? PCB là gì?


  Xi măng PC là xi măng Pooclang được nghiền từ clanhke với một lượng thạch cao nhất định ( chiếm từ 4-5%). Chất lượng Xi măng Pooclang xác định theo tiêu chuẩn TCVN 2682 : 1999


  Xi măng PCB là xi măng pooclang hỗn hợp được sản xuất từ việc nghiền hỗn hợp clanke thạch cao với phụ gia( lượng phụ gia kể cả thạch cao không chiếm quá 40% trong đó phụ gia đầy không quá 20% ). Chất lượng xi măng Pooclang hỗn hợp xác định theo TCVN 6260 : 1997


 Máy Bơm bê tông : Định nghĩa và các phương pháp bơm


Máy bơm bê tông là một loại máy xây dựng chuyên dụng để chuyển hỗn hợp vữa bê tông theo cả phương ngang lẫn phương đứng bằng phương pháp bơm đẩy.
Thông thường người ta chia máy bơm bê tông thành hai loại: bơm tĩnh và bơm động. Loại máy bơm động còn gọi là máy bơm cần. Loại này thường gắn trên xe ô tô tải, cũng có khi gắn trên trụ tháp cần trục tháp. Nó gắn liền với một hệ cần ống bơm gấp lại, như một cánh tay robot có điều khiển từ xa, (còn gọi là cần bơm bê tông), để có thể vươn xa tới những vị trí đổ bê tông với độ chính xác nhất định. Loại máy bơm cần gắn trên xe còn gọi là xe bơm bê tông hay cần bơm tự hành.

Loại bơm cần gắn trên tháp gọi là tháp bơm bê tông.


Loại bơm tĩnh, là loại máy chỉ gồm phần máy bơm chính không kèm theo hệ đường ống bơm, mà sẽ được đấu vào đường ống bơm đặt sẵn tại công trình, do đó loại máy bơm này còn gọi là máy bơm dòng hay máy bơm đường ống. Thường máy bơm tĩnh không tự di chuyển được, mà phải gắn vào xe tải như một rơ-moóc, để xe tải kéo đến công trường. Tuy nhiên, cũng có loại bơm tĩnh tự hành, nhưng đến công trường nó vẫn được đặt tĩnh tại một vị trí cố định, mà có thể nối vào hệ thống ống bơm bê tông lắp sẵn cố định tại hiện trường.

 

Tuy máy bơm tĩnh không có hệ cần để có thể vươn tới mọi vị trí đổ bê tông trong tầm hoạt động của cần như bơm động, nhưng với nhà siêu cao tầng nó lại thường được dùng để bơm chuyền lên từng đợt độ cao nhà theo từng đợt đường ống đứng. Trong trường hợp này, người ta thường kết hợp nhiều máy bơm tĩnh để bơm vữa bê tông trung chuyển theo từng đợt chiều cao của tòa nhà siêu cao tầng.


 Trong hỗn hợp bê tông thì nước có vai trò thế nào?


Nước là thành phần giúp cho xi măng phản ứng tạo ra các sản phẩm thủy hóa làm cho cường độ của bê tông tăng lên. Nước còn tạo ra độ lưu động cần thiết để cho quá trình thi công được dễ dàng .


Nước để chế tạo bê tông phải đảm bảo theo TCVN 4506 – 2012 chất lượng tốt không gây ảnh hưởng xấu đến thời gian ninh kết và rắn chắc của xi măng không gây ăn mòn cốt thép.


Tác dụng của cát trong bê tông? : đảm bảo theo TCVN 7570 – 06


Cát là cốt liệu nhỏ để lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn ( đá, sỏi ) và bao bọc xung quanh các hạt cốt liệu lớn tạo ra khối bê tông đặc chắc. Cát cũng là thành phần cùng với cốt liệu lớn tạo ra bộ khung chịu lực cho bê tông.


 Cốt liệu lớn là gì?


Trong hỗn hợp bê tông cốt liệu lớn là đá, sỏi có cỡ hạt thỏa mãn yêu cầu TCVN 7570 – 06 chúng tạo ra bộ khung chịu lực chính cho bê tông. Sỏi có đặc điểm cơ bản là hạt tròn nhẵn, độ rỗng và diện tích mặt ngoài nhỏ nên cần tốn ít nước, tốn ít xi măng mà vẫn dễ đầm dễ đổ nhưng lực dính kết với vữa xi măng nhỏ nên cường độ bê tông thấp 


Ngoài đá dăm và sỏi có thể dùng sỏi dăm ( dăm đập từ sỏi ). Chất lượng hay yêu cầu kĩ thuật của cốt liệu lớn được đặc trưng chủ yếu bởi các chỉ tiêu cường độ, thành phần hạt, độ lớn và hàm lượng tạp chất …Cường độ của đá dăm và sỏi dùng cho bê tông được xác định thông qua thí nghiệm nén một lượng đá hoặc sỏi trong xi lanh gọi là cường độ nén dập thí nghiệm theo TCVN 7572 - 06.


clinker là gi ? Là sản phẩm nung thiêu kết ở 14500C của đá vôi đất sét và 1 số phụ gia điều chỉnh hệ số như quặng sắt, boxit, cát …

Thành phần hóa học chủ yếu của phối liệu gồm 4 oxit chính như : CaO (từ đá vôi) và SiO2, Fe2O3, Al2O3 ( từ đất sét ) nếu thiếu sẽ được bổ sung bởi các phụ gia điều chỉnh kể trên.